I. CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 – BƯỚC NGOẶT VĨ ĐẠI TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC
Cách đây 81 năm, vào mùa Thu năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên phạm vi cả nước. Chỉ trong khoảng 15 ngày, từ giữa đến cuối tháng 8/1945, chính quyền đã về tay Nhân dân. Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập, tự do và Nhân dân làm chủ vận mệnh đất nước.
- Thời cơ lịch sử và sự chuẩn bị cho cuộc Tổng khởi nghĩa
Cuối năm 1944, đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc. Phát xít Đức thất bại ở châu Âu; tại châu Á – Thái Bình Dương, phát xít Nhật ngày càng suy yếu và cuối cùng tuyên bố đầu hàng vô điều kiện vào ngày 15/ 8/1945.
Đây là thời cơ đặc biệt đối với cách mạng Việt Nam. Trung ương Đảng nhận định thời cơ giành độc lập đã xuất hiện và phải nhanh chóng chớp lấy trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương giải giáp quân Nhật và các thế lực khác tìm cách can thiệp trở lại. Đảng đã chủ động chuẩn bị về chính trị, tổ chức, lực lượng và căn cứ địa; phát động cao trào kháng Nhật cứu nước; xây dựng lực lượng vũ trang, mở rộng Mặt trận Việt Minh và chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho tổng khởi nghĩa.
Ngày 13/8/1945, Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc được thành lập và ra Quân lệnh số 1, phát động Tổng khởi nghĩa trong cả nước.
Ngày 16/8/1945, Quốc dân Đại hội họp tại Tân Trào, thông qua 10 chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh, phê chuẩn Lệnh Tổng khởi nghĩa, thống nhất Quốc kỳ, Quốc ca và cử ra Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước đứng lên giành độc lập với tinh thần: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”.
- Tổng khởi nghĩa Tháng Tám diễn ra nhanh chóng, rộng khắp
Từ giữa tháng 8/1945, khí thế khởi nghĩa lan rộng trên cả nước. Nhiều địa phương chủ động giành chính quyền ngay khi thời cơ xuất hiện.
Ngày 18/8, Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh và Quảng Nam là 4 địa phương đầu tiên giành được chính quyền tại tỉnh lỵ, tạo khí thế mạnh mẽ cho phong trào trên cả nước.
Tại Hà Nội, ngày 19/8/1945, hàng vạn quần chúng cùng các lực lượng cách mạng tiến hành Tổng khởi nghĩa, chiếm các cơ quan trọng yếu và làm chủ Thủ đô.
Tại Huế, ngày 23/8/1945, quần chúng cách mạng giành chính quyền trong hòa bình.
Tại Sài Gòn – Gia Định, ngày 25/8/1945, đông đảo công nhân, nông dân, thanh niên và các tầng lớp nhân dân nổi dậy giành chính quyền.
Từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược, từ đất liền đến hải đảo, phong trào Tổng khởi nghĩa diễn ra mạnh mẽ và đến ngày 28/8/1945 ta đã giành được chính quyền trong cả nước. Ngày 30/8/1945, vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị, chế độ phong kiến tồn tại hàng nghìn năm ở Việt Nam chấm dứt.
- Ngày Quốc khánh 02/9/1945 – ngày khai sinh nước Việt Nam mới
Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố với quốc dân đồng bào và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Sự kiện này đánh dấu thắng lợi của cuộc đấu tranh lâu dài của dân tộc Việt Nam vì độc lập, tự do; đồng thời mở ra một thời đại mới, trong đó nhân dân Việt Nam trở thành người làm chủ đất nước và vận mệnh của mình.
Đối với mỗi người Việt Nam hôm nay, ngày 02/9 không chỉ là ngày nghỉ lễ của đất nước mà trước hết là Ngày Quốc khánh – ngày đánh dấu sự ra đời của một Nhà nước Việt Nam độc lập, là biểu tượng của khát vọng độc lập, tự do và quyền làm chủ của dân tộc.
II. VÌ SAO CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 GIÀNH ĐƯỢC THẮNG LỢI NHANH CHÓNG
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là kết quả tổng hòa của nhiều yếu tố, trong đó nổi bật là sự kết hợp giữa thời cơ lịch sử thuận lợi, sự chuẩn bị lâu dài và sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, linh hoạt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Một là, có sự lãnh đạo đúng đắn và kịp thời của Đảng: Đảng đã xác định đúng mục tiêu, lựa chọn phương pháp đấu tranh phù hợp, chủ động chuẩn bị lực lượng và đặc biệt là nhận diện đúng thời cơ để phát động toàn dân Tổng khởi nghĩa.
Hai là, có quá trình chuẩn bị lâu dài, toàn diện: Cách mạng Tháng Tám không phải là một thắng lợi bất ngờ hay tự nhiên xuất hiện. Đó là kết quả của quá trình chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, tổ chức, lực lượng vũ trang, căn cứ địa và lực lượng quần chúng qua nhiều năm.
Ba là, phát huy cao độ tinh thần yêu nước và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc: Hàng triệu người Việt Nam, không phân biệt thành phần, vùng miền, thành thị hay nông thôn, miền xuôi hay miền ngược, đã cùng đứng lên giành chính quyền. Sức mạnh của toàn dân chính là nguồn lực to lớn làm nên thắng lợi của cách mạng.
Bốn là, biết nắm bắt và tận dụng thời cơ lịch sử: Thời cơ đến rất nhanh và nếu không kịp thời hành động thì có thể bị bỏ lỡ. Đảng đã đánh giá đúng tình hình quốc tế và trong nước, quyết đoán phát động Tổng khởi nghĩa khi điều kiện đã chín muồi. Đây là một bài học có ý nghĩa sâu sắc: muốn thành công phải có sự chuẩn bị tốt và biết nắm bắt thời cơ.
III. Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ QUỐC KHÁNH 02/9
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một trong những sự kiện vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
Thắng lợi của cách mạng đã đập tan ách thống trị của thực dân Pháp, phát xít Nhật và chế độ phong kiến; đưa nhân dân từ thân phận bị áp bức trở thành người làm chủ đất nước; dẫn tới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Thắng lợi ấy mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do; kỷ nguyên Nhân dân làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh dân tộc; kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Cách mạng Tháng Tám đồng thời có ý nghĩa quốc tế sâu sắc. Thắng lợi của nhân dân Việt Nam đã cổ vũ mạnh mẽ các dân tộc thuộc địa và các lực lượng bị áp bức trên thế giới đứng lên đấu tranh vì độc lập, tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Đối với thế hệ trẻ, giá trị lớn nhất của Cách mạng Tháng Tám có thể được cảm nhận qua những điều rất gần gũi: chúng ta hôm nay được sống, học tập và phát triển trong một đất nước độc lập; được thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân; được lựa chọn nghề nghiệp, học tập và theo đuổi ước mơ của mình.
Những điều tưởng như bình thường ấy là thành quả mà các thế hệ cha ông đã phải hy sinh rất lớn mới giành được
IV. 81 NĂM – TỪ ĐỘC LẬP ĐẾN NHỮNG THÀNH TỰU TO LỚN TRONG XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC
Sau Cách mạng Tháng Tám, nước Việt Nam mới ra đời trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn. Chính quyền cách mạng còn non trẻ phải đối mặt với nhiều thử thách. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã đoàn kết, phát huy tinh thần tự lực, tự cường, từng bước vượt qua khó khăn và bảo vệ thành quả cách mạng.
- Bảo vệ độc lập, thống nhất đất nước
Trong những năm 1945–1946, Nhà nước cách mạng từng bước được củng cố. Tổng tuyển cử ngày 06/01/1946 được tổ chức thành công; Quốc hội khóa I ra đời; Hiến pháp năm 1946 được ban hành; các phong trào chống “giặc đói”, “giặc dốt” được triển khai.
Sau đó, nhân dân Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Với đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao, cuộc kháng chiến đã đi đến thắng lợi mà đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, buộc Chính phủ Pháp ký Hiệp định Giơnevơ.
Tiếp đó là cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kéo dài 21 năm. Nhân dân hai miền Nam – Bắc vừa chiến đấu, vừa xây dựng và chi viện cho tiền tuyến. Đại thắng mùa Xuân năm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Sau năm 1975, đất nước tiếp tục phải khắc phục hậu quả chiến tranh, bảo vệ biên giới, chủ quyền lãnh thổ và thực hiện nghĩa vụ quốc tế. Những khó khăn của thời kỳ sau thống nhất cũng trở thành cơ sở thực tiễn để Đảng từng bước đổi mới tư duy và khởi xướng công cuộc Đổi mới từ năm 1986.
- Đổi mới và phát triển đất nước
Từ năm 1986, công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước được triển khai, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế. Cơ chế quản lý từng bước được đổi mới, nền kinh tế nhiều thành phần được phát triển, đất nước mở rộng hội nhập quốc tế.
Nhờ quá trình đổi mới, Việt Nam từng bước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế – xã hội, trở thành một nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Theo đề cương, tính đến năm 2024, quy mô nền kinh tế Việt Nam xếp thứ 32 thế giới, thuộc nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài.
Đây là kết quả của cả một quá trình nỗ lực lâu dài của Đảng, Nhà nước, cộng đồng doanh nghiệp và toàn thể Nhân dân.
- Văn hóa và con người ngày càng được coi trọng
Trong quá trình phát triển đất nước, văn hóa ngày càng được nhận thức đầy đủ hơn với tư cách vừa là nền tảng tinh thần, vừa là nguồn lực nội sinh của phát triển.
Nhiều giá trị văn hóa truyền thống được bảo tồn và phát huy; các hoạt động văn hóa, văn học nghệ thuật ngày càng phong phú; nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được bảo tồn, tôn tạo; giao lưu và hợp tác quốc tế về văn hóa ngày càng mở rộng.
Điều đó đặt ra trách nhiệm đối với thế hệ trẻ chúng ta là: biết trân trọng lịch sử, giữ gìn tiếng Việt, văn hóa và truyền thống dân tộc; đồng thời tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại.
- Chăm lo đời sống và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội
Cùng với phát triển kinh tế, chính sách xã hội ngày càng được hoàn thiện theo quan điểm lấy con người làm trung tâm của sự phát triển.
Mục tiêu không chỉ là tăng trưởng kinh tế mà còn phải gắn tăng trưởng với tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giáo dục, y tế, việc làm, nhà ở và các dịch vụ cơ bản cho người dân.
Đây chính là một trong những giá trị quan trọng của quá trình xây dựng và phát triển đất nước: phát triển phải hướng tới con người và vì hạnh phúc của Nhân dân.

(Ảnh và bài sưu tầm)


